Sunday, November 30, 2014

THÀNH LẬP CÔNG TY LIÊN DOANH

Quý khách đang có nhu cầu thành lập công ty liên doanh – liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Công việc liên doanh với các cá nhân, tổ chức nước ngoài không còn là điều mới mẻ, xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam bây giờ. Thủ tục không khác mấy so với việc thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. LHP là một trong những đơn vị chuyên thành lập các công ty liên doanh cho nhiều khách hàng tại Tp HCM và các tỉnh lân cận khác.
Thành lập công ty
Thành lập công ty liên doanh
Để tiến hành quá trình thành lập quý khách cần chú ý một số thủ tục thành lập công ty liên doanh với nước ngoài như sau:
1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2. Dự thảo Điều lệ công ty.
3. Danh sách thành viên, bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của mỗi thành viên.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
5. Chứng chỉ hành nghề của thành viên và cá nhân khác đối với công ty đăng ký những  ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Quy trình thành lập công ty:
  • Tiếp nhận nhu cầu của khách hàng qua điện thoại hoặc email
  • Gặp mặt ký hợp đồng và nhận đầy đủ thông tin về hồ sơ
  • Hoàn thiện hồ sơ sau 5 ngày nhận được đầy đủ thông tin của khách hàng
  • Hẹn khách hàng thời gian, địa điểm ký hồ sơ
  • Nộp hồ sơ sớm nhất có thể
  • Nhận Giấy chứng nhận đầu tư tại SKH & ĐT
  • Liên hệ khắc dấu
  • Giao Giấy chứng nhận đầu tư, con dấu cho khách hàng
Bạn chắc chắn sẽ hài lòng với dịch vụ thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại công ty LHP. Chúng tôi rất hân hạnh được cộng tác và phục vụ khách hàng.

Wednesday, November 26, 2014

Thành lập công ty có nên hay không cho sinh viên mới ra trường?

Thành lập công ty cho sinh viên mới ra trường?

Gọi là Thành Công nhất trên đường đời thì Ai cũng muốn mình làm chủ công việc của chính mình không ai muốn học ra trường phải phụ thuộc vào người khác, đa phần những sinh viên ra trường đều nghĩ vậy,cộng với việc gia đình khá giả nên các bạn đều muốn thành lập công ty cho riêng cho mình( Tự làm chủ).Nhưng theo tôi thì không nên vội vàng quyết định một việc gì đó khi chưa suy nghĩ kĩ càng.
Thành lập công ty
Thành lập công ty

Vì sao tôi lại cho rằng: không nên thành lập công ty sau khi ra trường?
Thứ nhất: khi sinh viên ra trường mà thành lập ngay công ty do mình là chủ và điều hành cái công ty đó thì rủi ro xảy ra rất cao cho những bạn trẻ muốn thực hiện ước mơ mình ngay. Dù cho ngồi trên giảng đường bạn học giỏi đến đâu đi nữa nhưng ra thực tế cuộc đời nếu bạn chưa có được kinh nghiệm thực tiễn thì khi đó bạn sẽ bối rối trong cách xử lý những công việc bạn đang vướng phải trong chuyện kinh doanh.Khi đó bạn không giải quyết được vấn đề mà còn khiến vấn đề đi vào một con đường bế tắc.
Thứ Hai: thành lập công ty do mình làm chủ không phụ thuộc vào ai thì chắc chắn sẽ có nhiều công ty khác có nhiều kinh nghiệm làm việc đến cạnh tranh với công ty bạn, thương trường là chiến trường bởi vậy sẽ có rất nhiều kiểu cạnh tranh theo nhiều phương pháp khác nhau chắc chắn sẽ có . Với tình huống này bạn có chắc được mình sẽ có kinh nghiệm tranh chấp hợp pháp với những công ty đang nhòm ngó đến bạn không?
Theo tôi nghĩ là bạn sẽ không có khả năng đó vì bạn là người mới nên bạn đâu có kinh nghiệm như những công ty làm việc lâu năm nên lại thật bại trước những công ty khác là điều dĩ nhiên,có khi bạn còn vướng vào những trận lao lý không đáng có thì cuộc đời và mơ ước của bạn sẽ bị hủy ngay.
Thứ ba: cái ý tưởng kinh doanh để thành tập công ty tnhh sẽ khiến bạn nghĩ rằng: Việc làm của bạn táo bạo và giờ muốn dừng lại vì nhận thấy rằng cái nghề kinh doanh này không hợp với mình nữa.Vì mục tiêu trước mắt là mục tiêu khác. Như thế bạn sẽ là người mất đi quyền làm chủ bản thân
–>Với ba yếu tố tôi mới đưa ra thì tôi thành thật khuyên những bạn sinh viên mới ra trường có ý định thành lập công ty thì chưa đến lúc,cái ước mơ của bạn vẫn phải thực hiện nhưng không phải lúc này.
chính vì vậy tôi chỉ khuyên những Sinh Viên mới ra trường không nên vội vàng thành lập doanh nghiệp dù cho có một thời cơ thuận lợi để biến ước mơ thành hiện thật nhưng chưa phải lúc thành lập công ty.

Tuesday, November 25, 2014

Thủ tục thành lập chi nhánh công ty có yếu tố nước ngoài

Khi thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam các nhà đầu tư cần nắm rõ thủ tục gi ? Chi phí và thời gian xin cấp giấy phép thành lập chi nhánh ?. Để hỗ trợ nhà đầu tư Hùng Phát cung cấp dịch vụ tư vấn thành lập chi nhánh công ty, thành lập công ty nước ngoài giúp quý khách hàng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí và được sử dụng dịch vụ uy tín, chuyên nghiệp của chúng tôi . 
Nội dung tư vấn thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Hùng Phát : 
  • Bản sao giấy phép đăng ký kinh doanh (Có chứng thực đối với công ty trong nước và hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
  • Báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc có xác nhận của cơ quan thuế  trong năm gần nhất(hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
  • Bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của người đại diện chi nhánh công ty tại Việt Nam
  • Bản sao hợp đồng thuê địa điểm đặt trụ sở văn phòng chi nhánh công ty 
  • Điều lệ của công ty chủ quản (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
  • Văn bản ủy quyền của công ty cho người đại diện (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
2 . Thời gian thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam
  • Thời gian : 30 - 45 ngày ( Tùy từng trường hợp )
3 . Quy trình thành lập chi nhánh công ty nước ngoài 
  • Việt Luật tiến hành soạn thảo hồ sơ thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam cho khách hàng . 
  • Đại diện lên Sở kế hoạch và Đầu tư để nộp hồ sơ đăng ký  thành lập doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh cho quý khách hàng
  • Đại diện nhận kết quả là giấy phép thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam  tại sở KH-ĐT cho khách hàng
  • Đại diện theo dõi hồ sơ và trả lời của Sở KH-ĐT, thông báo kết quả hồ sơ đã nộp cho khách hàng
  • Tiến hành thủ tục khắc con dấu cho chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam
  • Tiến hành thủ tục đăng ký Mã số Thuế và Mã số Hải quan cho chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam .
4 . Chi phí dịch vụ thành lập chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam
  • Liên hệ để có tư vấn mức giá cụ thể nhất .
5 . Dịch vụ hậu mãi công ty 
  • Soạn thảo nội quy và quy chế hoạt động công ty 
  • Tư vấn dịch vụ kế toán trọn gói giá rẻ
  • Lập tờ khai thuế môn bài 
  • Tư vấn kế khai thuế hàng tháng khách hàng .
  • Tặng 01 dấu chức danh
Xem thêm: http://luathungphat.vn/thanh-lap-cong-ty/

Thành lập văn phòng đại diện cho công ty nước ngoài

Luật Hùng Phát cung cấp dịch vụ thành lập văn phòng đại diện cho công ty nước ngoài với thủ tục nhanh gọn và mức chi phí hợp lý nhất, quý khách hàng không phải gặp trở ngại bởi thủ tục pháp lý. Quý khách hàng giành thời gian đó để tập trung kinh doanh còn các vướng mắc về pháp lý khi thành lập công ty hãy để cho Hùng Phát thực hiện.
 Luật Hùng Phát hỗ trợ tư vấn đến thương nhân nước ngoài  thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam căn cứ vào cơ sở pháp lý  với  nội dung cụ thể như sau :
    • Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội.
    • Nghị định số 72/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 7 năm 2006 Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của công ty nước ngoài tại Việt Nam.
    • Thông tư 11/2006/TT-BTM hướng dẫn thực hiện Nghị định 72/2006/NĐ-CP.
    • Thông tư 133/2012/TT-BTC ngày 13/08/2012 quy định chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Lưu ý: Văn phòng đại diện nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài không có chức năng thực hiện các hoạt động thương mại sinh lời trực tiếp như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Chỉ có chức năng đại diện cho công ty giao dịch với khách hàng.
1 . Điều kiện thành lập văn phòng đại diện nước ngoài sau khi thành lập doanh nghiệp
    • Là thương nhân được pháp luật nước, vùng lãnh thổ (sau đây gọi chung là nước) nơi thương nhân đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh công nhận hợp pháp.
    • Đã hoạt động không dưới 01 năm, kể từ khi được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh hợp pháp ở nước của thương nhân.
    • Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện nước ngoài: Sở công thương tỉnh, thành phố thực hiện việc cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện nước ngoài
    • Hợp đồng thuê văn phòng tại Việt Nam  
    • Đơn đề nghị cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện.
    • Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương có quy định thời hạn hoạt động của thương nhân nước ngoài thì thời hạn đó phải còn ít nhất là 01 năm.
    • Báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty
    • Bản sao Điều lệ hoạt động của thương nhân đối với thương nhân nước ngoài là các tổ chức kinh tế.
    • Bản sao Chứng minh nhân dân (đối với người Việt Nam) hoặc hộ chiếu (đối với người nước ngoài) của người đứng đầu văn phòng đại diện.
    • Thư ủy quyền cho do đại diện có thẩm quyền của thương nhân nước ngoài ký :
        • Các mục 3 - 4 - 5 phải hợp thức hóa lãnh sự và dịch sang Tiếng Việt.
        • Hợp đồng thuê nhà phải có công chứng hoặc thuê cao ốc văn phòng của công ty có chức năng kinh doanh bất động sản.
Ngoài ra Luật Hùng Phát còn cung cấp dịch vụ kế toán trọn gói giá rẻ, Quý khách hàng có thể tham khảo chi tiết tại website: http://luathungphat.vn/dich-vu-ke-toan-thue-tron-goi/

Monday, November 24, 2014

Thay đổi thành viên hoặc cổ đông cho công ty tnhh và công ty cổ phần

Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp có nhu cầu  thay đổi cổ đôngthành viênthay đổi chủ sở hữuCông ty tư vấn Luật Hùng Phát hỗ trợ doanh nghiệp làm thủ tục trên như sau. Căn cứ vào luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Hùng Phát  giới thiệu dịch vụ thay đổi thành viên, thay đổi cổ đông, thay đổi chủ sơ hữu như sau:  
    • Tư vấn miễn phí cho khách hàng các vấn đề liên quan đến hoạt động thay đổi thành viên, thay đổi cổ đông, thay đổi chủ sở hữu, thành lập công ty tnhh,, .
    • Tư vấn các thủ tục pháp luật về thủ tục thay đổi cổ đông, thay đổi thành viên, thay đổi chủ sở hữu
    • Tư vấn, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu thay đổi cổ đông, thành lập doanh nghiệp trọn gói , thay đổi thành viên, thay đổi chủ sở hữu.
    • Kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp các yêu cầu tư vấn và các giấy tờ do khách hàng cung cấp.
    • Đại diện cho khách hàng dịch thuật, công chứng các giấy tờ khách có liên quan.
1 . Hồ sơ thay đổi thành viên, thay đổi cổ đông, thay đổi chủ sở hữu nộp tại phòng đăng ký kinh doanh – sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội bao gồm: 
    • Thông báo thay đổi cổ đông sáng lập, thay đổi thành viên, thay đổi chủ sở hữu 
    • Quyết định hoặc nghị quyết của đại hội đồng cổ đông công ty, hội đồng thành viên, chủ sở hữu 
    • Bản sao hợp lệ biên bản họp đại hội đồng cổ đông công ty, hội đồng thành viên, chủ sở hữu
    • Danh sách cổ đông sáng lập/thành viên. 
    • Bản sao hợp lệ giấy chứng minh nhân dân cổ đông mới là cá nhân hoặc các văn bản xác định tư cách pháp nhân và quyết định uỷ quyền đại diện phần vốn góp và chứng thực cá nhân người đại diện phần vốn góp của cổ đông mới là pháp nhân. 
    • Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế khi  thành lập công ty.    

2 .  Dịch vụ thay đổi bổ sung thành viên công ty như sau:       
    • Soạn thảo hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật, hướng dẫn khách hàng ký đóng dấu;  
    • Xử lý hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm khi có yêu cầu;     
    • Thay mặt khách hàng nộp hồ sơ và nhận kết quả tại phòng đăng ký kinh doanh – sở kế hoạch và đầu tư 
    • Xem thêm: http://luathungphat.vn/thanh-lap-cong-ty/

Thủ tục thay đổi vốn điều lệ của doanh nghiệp

Thành lập doanh nghiệp là vấn đề cần thiết để hoạt động, nhưng trong quá trình đó doanh nghiệp cần tăng vốn điều lệ mua tài sản cố định, mở rộng hoạt động, cân đối sổ sách kế toán....Sau đây là một số tư vấn cho công ty:
1 . Tư vấn các quy định quy định của pháp luật về tăng, giảm vốn điều lệ hoặc thay đổi tỷ lệ vốn góp:
    • Đối với công ty TNHH 1 thành viên không được giảm vốn điều lệ, được tăng vốn và thay đổi tỷ lệ vốn góp.
    • Đối với công ty TNHH hai thành viên chỉ được phép giảm vốn sau hai năm kể từ ngày thành lập.
    • Đối với công ty cổ phần nếu giảm vốn chúng tôi sẽ tư vấn cụ thể tùy từng trường hợp. 
    • Trách nhiệm của các thành viên đối với trường hợp tăng, giảm vốn
    • Tư vấn về các vấn đề có liên quan.  

2 . Hồ sơ nộp tại phòng đăng ký kinh doanh sở kế hoạch và đầu tư  
    • Thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh    
    • Biên bản của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần/của hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hai thành viên/của chủ sở hữu đối với công ty TNHH. (Lưu ý có nội dung sửa đổi điều lệ).  
    • Quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần/của hội đồng thành viên đối với công ty TNHH hai thành viên/của chủ sở hữu đối với công ty TNHH. (Lưu ý có nội dung sửa đổi điều lệ).  
    • Kèm theo hồ sơ gồm: Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bản gốc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bản sao giấy chứng nhận đăng ký thuế khi thành lập doanh nghiệp trọn gói.  
    • Đối với trường hợp giảm vốn: Kèm theo báo cáo tài chính năm gần nhất.    
3 . Thủ tục tăng giảm vốn điều lệ  tại  Luật Hùng Phát như sau:     
    • Soạn thảo hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật, hướng dẫn khách hàng ký đóng dấu;      
    • Xử lý hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm khi có yêu cầu; 
    • Thay mặt khách hàng nộp hồ sơ và nhận kết quả tại phòng đăng ký kinh doanh – sở kế hoạch và đầu tư
    • Truy cập ngay để xem chi tiết: http://luathungphat.vn/dich-vu-thanh-lap-doanh-nghiep-tron-goi/

Thursday, September 18, 2014

Doanh nghiệp dịch vụ kế toán: Đối mặt với giấy phép con

(DĐDN) - Bộ Tài chính đã hoàn thành dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán đưa ra xin ý kiến góp ý của cộng đồng DN và các nhà quản lý. Luật Kế toán chỉ sửa đổi, bổ sung 10 điều của Luật Kế toán hiện hành nhưng theo nhiều DN, dự luật đã đặt thêm hàng loạt giấy phép con cho DN kinh doanh dịch vụ kế toán.

Kiểm toán độc lập được hành nghề trong mọi lĩnh vực, trong khi đó,

dịch vụ kế toán chỉ phục vụ cho đối tượng là các DN siêu nhỏ và nhỏ

Điều đáng quan tâm là những giấy phép "con", giấy phép "cháu" đối với kinh doanh dịch vụ kế toán theo dự thảo Luật Kế toán thiếu tính khả thi.


Thiếu tính khả thi và... quá mức cần thiết
Trước hết, yêu cầu "có ít nhất ba kế toán viên hành nghề" là thiếu tính khả thi vì từ năm 2005 đến nay, Bộ Tài chính tổ chức thi cấp Chứng chỉ hành nghề kế toán mỗi năm một lần, mỗi lần chỉ cấp được khoảng 25 - 30 chứng chỉ. Trong khi đó, khá nhiều người được cấp chứng chỉ lại không hành nghề dịch vụ kế toán. Đến hết năm 2013, chỉ có 192 kế toán viên hành nghề và kiểm toán viên đăng ký hành nghề với Hội Kế toán - Kiểm toán Việt Nam (VAA). Với tốc độ đó, sao có đủ kế toán viên hành nghề để thành lập DN theo quy định trên.
Đòi hỏi "tối thiểu phải có hai thành viên góp vốn" là quá mức cần thiết. Bởi, người có chứng chỉ hành nghề cũng là người lao động , không bắt buộc phải góp vốn vào Cty mà được phép làm việc theo hợp đồng lao động. Quy định đó sẽ gây khó khăn lớn cho việc thành lập DN dịch vụ kế toán khi không thể thuyết phục được người có chứng chỉ hành nghề tham gia góp vốn.
Điều kiện "người đại diện theo pháp luật, giám đốc hoặc tổng giám đốc của Cty trách nhiệm hữu hạn phải là kế toán viên hành nghề" cũng là điều kiện quá mức cần thiết. Bởi, người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm toàn diện về mọi hoạt động của DN và do đó phải có kinh nghiệm quản lý, kiến thức tương đối toàn diện. Không phải bất cứ ai có "chứng chỉ hành nghề kế toán" là đã có kinh nghiệm trong quản lý DN. Do đó, chỉ cần quy định "Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) DN dịch vụ kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế toán và chỉ người có chứng chỉ hành nghề kế toán mới được ký hợp đồng dịch vụ kế toán là đủ.
Điều kiện "bảo đảm vốn pháp định theo quy định của Chính phủ" lại là một... quy định khó hiểu! Bởi lẽ, dịch vụ kế toán không đòi hỏi vốn lớn, cũng không phải là lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm có thể phải bồi thường vật chất đến mức phải quy định vốn pháp định. Những rủi ro thường gặp trong dịch vụ kế toán đều có nguyên nhân từ sự không hợp pháp của chứng từ, tài liệu được sử dụng trong công tác kế toán. Song, các hợp đồng dịch vụ kế toán đều quy định về trách nhiệm của khách hàng là "chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự hợp pháp của chứng từ, tài liệu kế toán được cung cấp để sử dụng trong công tác kế toán". Do đó, những khoản DN dịch vụ kế toán phải bồi thường cho khách hàng (nếu có) thường chỉ là phạt vi phạm hành chính từ những lỗi kỹ thuật của kế toán viên. Đó là số tiền không lớn để đến mức DN phải có vốn pháp định.
Quy định "phần vốn góp của người có chứng chỉ hành nghề kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của DN..." cũng lại thiếu khả thi. Bởi lẽ, dịch vụ kế toán là lĩnh vực "năng nhặt, chặt bị", không phải cứ có chứng chỉ hành nghề kế toán là đã có tiền để góp vốn thành lập DN. Chẳng hạn, một Cty TNHH có 5 thành viên, trong đó có 3 thành viên có chứng chỉ hành nghề kế toán có vốn điều lệ 1 tỷ đồng, thì ba thành viên có chứng chỉ hành nghề phải góp ít nhất 505 triệu đồng. Rất ít người có chứng chỉ hành nghề có đủ số tiền theo yêu cầu trên để góp vốn!
Đặc biệt, quy định "phần vốn góp của các thành viên là tổ chức không quá 35% vốn điều lệ của Cty" dựa trên cơ sở nào? DN nước ngoài góp vốn với DN dịch vụ kế toán Việt Nam có bị khống chế như trên hay không? Theo Biểu cam kết về dịch vụ đính kèm Hiệp định gia nhập WTO của Việt Nam, lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán không bị bất kỳ hạn chế nào. Vậy, quy định trên có vi phạm cam kết với WTO?
Hơn nữa, quy định "người có chứng chỉ hành nghề phải có Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề" là "đẻ" thêm một "giấy phép cháu". Bởi, một kế toán viên, sau 4 đến 5 năm học đại học và có tới 5 năm công tác, phải trải qua một kỳ thi quốc gia mới lấy được "Chứng chỉ hành nghề kế toán" nhưng để được hành nghề lại phải xin "Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề"!
Hậu quả nhãn tiền
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng dự kiến cho ra đời hàng loạt giấy phép con, giấy phép cháu trong lĩnh vực dịch vụ kế toán.
Nguyên nhân phải kể đến trước hết là việc áp đặt phương thức quản lý đối với kiểm toán độc lập cho hoạt động dịch vụ kế toán. Đó là điều không hợp lý, là thổi phồng quá mức tầm quan trọng của dịch vụ kế toán. Bởi vì, giữa kiểm toán độc lập và dịch vụ kế toán có những điểm khác nhau rất cơ bản. Kiểm toán độc lập được hành nghề trong mọi lĩnh vực, trong khi đó, dịch vụ kế toán chỉ phục vụ cho đối tượng là các DN siêu nhỏ và nhỏ. Các DNNN không được sử dụng dịch vụ kế toán; những DN có quy mô vừa và lớn, các DN đã niêm yết trên TTCK, các ngân hàng, tổ chức tín dụng... không sử dụng dịch vụ kế toán mà tổ chức bộ máy kế toán để đáp ứng yêu cầu quản lý. Người có chứng chỉ kiểm toán viên không được hành nghề cá nhân, ngược lại, người có chứng chỉ hành nghề kế toán được hành nghề cá nhân.
Kiểm toán độc lập có sản phẩm riêng là báo cáo kiểm toán, còn sản phẩm của dịch vụ kế toán là hệ thống sổ kế toán, báo cáo tài chính của DN khách hàng theo quy định của pháp luật. Về giá trị pháp lý của sản phẩm cung ứng: Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán độc lập được sử dụng với nhiều mục đích như: chia lợi nhuận; liên doanh, liên kết; đấu thầu... Trong khi đó, các báo cáo tài chính do dịch vụ kế toán cung cấp, người đại diện theo pháp luật của DN khách hàng vẫn ký và chịu trách nhiệm và những báo cáo này phần lớn chỉ phục vụ mục đích quyết toán thuế.
Quản lý chặt chẽ về chất lượng dịch vụ kế toán là rất cần thiết. Song, không thể chứng minh được rằng, những điều kiện thiếu tính khả thi, đi ngược lại xu thế của cải cách hành chính được quy định trong dự thảo Luật KT sẽ có tác động nâng cao chất lượng của dịch vụ kế toán. Nhân tố quan trọng nhất đối với việc nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán là việc thiết lập và tuân thủ quy trình kiểm soát chất lượng, là việc thường xuyên phải cập nhật kiến thức cho kế toán viên hành nghề. Bộ Tài chính đã có quy định và VAA đã triển khai thực hiện tương đối tốt những quy định đó từ năm 2009 đến nay. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để những DN đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kế toán hiện nay đăng ký hành nghề với VAA, gia nhập Chi hội kế toán hành nghề Việt Nam (VICA). Hơn nữa, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đảm bảo chất lượng dịch vụ là điều kiện sống còn của các DN dịch vụ kế toán. Do đó, các DN phải thường xuyên quan tâm.

Quản lý chặt chẽ về chất lượng dịch vụ kế toán là rất cần thiết. Song, những điều kiện thiếu tính khả thi, trong dự thảo Luật KT sẽ có tác động nâng cao chất lượng của dịch vụ kế toán.
Dịch vụ kế toán là thị trường còn rất non trẻ ở nước ta. Số DN và kế toán viên đăng ký hành nghề với VAA còn rất ít. Theo đánh giá của VAA, số DN đăng ký hành nghề với VAA chỉ được khoảng 20% trong tổng số DN đang kinh doanh dịch vụ kế toán. Với kế toán viên hành nghề, từ năm 2005 đến nay, Bộ Tài chính đều tổ chức mỗi năm một kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề kế toán, tức là đã có 9 kỳ thi. Không có số liệu được công bố về tổng số người đã được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán nhưng con số 190 kế toán viên hành nghề đã đăng ký hành nghề với VAA (bao gồm cả một số kiểm toán viên) là rất ít. Điều đó có nghĩa là có rất nhiều người đã được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán nhưng không hành nghề dịch vụ kế toán. Trong bối cảnh trên, với chức năng quản lý nhà nước, Bộ Tài chính cần hỗ trợ cho các DN dịch vụ kế toán tồn tại và hoạt động, có những biện pháp nhằm hạn chế hoạt động của lực lượng "kế toán chạy sô", đơn giản hóa thủ tục hành chính, khuyến khích các DN dịch vụ kế toán đăng ký hành nghề với VAA để có thể quản lý về chất lượng dịch vụ. Khi các DN dịch vụ kế toán đủ mạnh và chiếm lĩnh được thị trường, việc đặt ra những yêu cầu cao hơn để đảm bảo chất lượng dịch vụ sẽ là hợp lý hơn. Đáng tiếc là dự thảo Luật nếu không có sự điều chỉnh sẽ... “ép” các DN dịch vụ kế toán phải rời khỏi thị trường. Và, tất nhiên, lực lượng dịch vụ kế toán bất hợp pháp sẽ "thừa thắng xông lên"!
Kiến nghị từ thực tế
Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật sửa đổi, Bộ Tài chính cũng nhận định tác động của việc đặt thêm những điều kiện cho kinh doanh dịch vụ kế toán như sau: "Thực hiện theo phương án này sẽ chặt chẽ hơn đối với cá nhân hành nghề và DN trong việc đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán làm hạn chế sự phát triển về số lượng các DN dịch vụ kế toán thành lập mới". Nhận định trên hoàn toàn đúng và không chỉ "hạn chế sự phát triển về số lượng các DN dịch vụ kế toán thành lập mới" mà sẽ dẫn đến tình trạng nhiều DN dịch vụ kế toán sẽ "biến mất" trên thị trường. Sự biến mất của các DN dịch vụ kế toán sẽ xảy ra theo một trong hai cách. Thứ nhất, chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán vì chủ DN không đủ sức (cả về thời gian và tiền bạc) để "xin" các giấy phép con. Thứ hai, không đăng ký hành nghề, không xin Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh nhưng vẫn vô tư kinh doanh dịch vụ kế toán. Chắc chắn rằng, sự "biến mất" theo cách thứ hai sẽ gia tăng. Câu hỏi được đặt ra là: Bộ Tài chính có đủ lực lượng để kiểm tra xử phạt? Câu trả lời là: Không! Và điều đó cũng có nghĩa là, Bộ Tài chính đã chính thức "bàn giao" thị trường dịch vụ kế toán cho lực lượng kế toán hành nghề bất hợp pháp hiện nay! Đến bao giờ chúng ta mới có một thị trường dịch vụ kế toán lành mạnh và những DN dịch vụ kế toán đủ lớn?
9 ... giấy phép để được hoạt động
Điều 55 Luật Kế toán hiện hành được dự Luật KT chia thành 10 điều từ 55a đến 55k với "một rừng" giấy phép con, cháu. Chẳng hạn, một Cty TNHH muốn kinh doanh dịch vụ kế toán phải có đến...9 giấy phép như sau:
Số 1: Phải là thành lập Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên quy định tại tiết a Điều 55c Luật KT.
Theo quy định tại Điều 55d Luật KT, có những giấy phép con sau đây:
Số 2: Có ít nhất ba kế toán viên hành nghề;
Số 3: Có tối thiểu hai kế toán viên hành nghề là thành viên góp vốn;
Số 4: Người đại diện theo pháp luật, GĐ hoặc TGĐ của Cty TNHH phải là kế toán viên hành nghề;
Số 5: Phải có vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;
Số 6: Phần vốn góp của những người có chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán phải chiếm trên 50% vốn điều lệ của DN.
Số 7: Phần vốn góp của các thành viên là tổ chức không quá 35% vốn điều lệ của Cty.
Số 8: Các kế toán viên hành nghề phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề theo quy định tại Điều 55b Luật KT;
Số 9: DN phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán theo quy định tại Điều 55d Luật KT.

Thành lập doanh nghiệp,thành lập công ty, dịch vụ kế toán